LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay44 
 Hôm qua428
 Tuần này44 
 Tất cả373411 
IP: 18.210.23.15
 

Trao đổi nghiệp vụ và tuyên truyền pháp luật
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân
(Cập nhật: 19/06/2019)
 

Xét về phương diện lý luận, thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án là việc giải quyết các tranh chấp hành chính giữa chủ thể quản lý hành chính Nhà nước với cá nhân, tổ chức được xác định theo cấp xét xử, trong phạm vi địa giới hành chính nhất định nhằm thực hiện việc xem xét, đánh giá đưa ra kết luận và định đoạt các vấn đề pháp lý của vụ án thông qua hoạt động xét xử. Các tranh chấp này trở thành đối tượng xét xử của Tòa án khi bị cá nhân, tổ chức khởi kiện theo quy định của pháp luật. Luật tố tụng Hành chính năm 2015 ra đời là một bước tiến đáng kể trong sự phát triển về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính, đảm bảo được quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức, hiệu quả hoạt động quản lý hành chính Nhà nước và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính bao gồm: Thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp, lãnh thổ và thẩm quyền ra phán quyết của Tòa án đối với vụ án hành chính.

* Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo loại việc

Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định về đối tượng xét xử vụ án hành chính gồm:

“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;

b) Quyết định, hành vi cuả Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;

c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

3. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

4. Khiếu kiện danh sách cử tri”.

Việc sử dụng phương pháp loại trừ để quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc xác định quyền khởi kiện vụ án hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính. Điểm mới của Luật tố tụng hành chính 2015 là quy định rõ ràng hơn và bổ sung thêm trường hợp loại trừ về “áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng” là quy định phù hợp với thực tiễn và đảm bảo tính khách quan.

Đối với thẩm quyền về loại việc có nhiều điểm mới, song cần được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng như: Việc giải thích quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật tố tụng hành chính cần được cụ thể hóa hơn nữa trong các văn bản hướng dẫn để đảm bảo việc xác định thẩm quyền của Tòa án một cách thống nhất, chính xác và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thụ lý, xét xử hành chính.

* Về thẩm quyền xét xử hành chính theo cấp và lãnh thổ

Tòa hành chính ở nước ta được thành lập trong hệ thống Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án cấp huyện không tổ chức Tòa hành chính mà có các thẩm phán chuyên trách thực hiện việc xét xử án hành chính. Tòa hành chính ở nước ta tổ chức theo đơn vị hành chính - lãnh thổ và trùng với cơ quan hành chính về lãnh thổ và về cấp. Thẩm quyền này được quy định cụ thể tại Điều 31, 32 Luật tố tụng hành chính 2015, theo đó Tòa án nhân dân cấp huyện được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các loại khiếu kiện sau đây: “1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; 2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án đối với công chức thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó; 3. Khiếu kiện danh sách cử tri của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án”.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 32 Luật tố tụng hành chính, theo đó Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án; khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án và của người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước đó; khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện…

Luật tố tụng hành chính 2015 quy định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thì không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Việc quy định như vậy sẽ bảo đảm tính hiệu quả, khả thi, độc lập và khách quan trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, tuy nhiên cần nghiên cứu theo hướng quy định việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc đi lại khởi kiện cũng như để phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp về mở rộng thẩm quyền cho cơ quan tư pháp cấp huyện.

* Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính quy định tại Điều 193 Luật tố tụng hành chính 2015, theo đó “Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan”. Việc quy định cụ thể thẩm quyền của Hội đồng xét xử đã tạo cơ sở để Hội đồng xét xử ra Bản án, quyết định cụ thể, rõ ràng  đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định được thuận lợi và hiệu quả.

Điểm mới đáng ghi nhận trong việc quy định thẩm quyền ra phán quyết của hội đồng xét xử sơ thẩm là có thể kiến nghị sửa đổi, bổ sung, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Ngoài thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính, Tòa án nhân dân còn có thẩm quyền giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính. Đây là những thiệt hại thực tế do quyết định hành chính và hành vi hành chính gây ra.

Luật tố tụng hành chính 2015 ghi nhận phán quyết của Tòa án về tính hợp pháp của quyết định hành chính và hành vi hành chính, không ghi nhận Tòa án được quyền phán xét về tính hợp lý của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện. Quy định này là phù hợp với quan điểm quyền tư pháp không được can thiệp sâu vào quyền hành pháp, nhưng cũng cần có cơ chế cụ thể, phù hợp để buộc cơ quan hành chính và các đối tượng có liên quan nghiêm chỉnh chấp hành phán quyết của Tòa án để Bản án của Tòa án được thi hành một cách triệt để.

                                                                                                    Đàm Thị Trang, Nguyễn Đình Long
VKSND huyện Kinh Môn
 
Các bài liên quan
Một số quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành (18/06/2019)
Trao đổi về một số dạng vi phạm phổ biến trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự sơ thẩm (16/05/2019)
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (15/05/2019)
Kiểm sát Quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử (10/05/2019)
Cần hiểu đúng về tình tiết " Chứa mại dâm 4 người trở lên" (06/05/2019)
 
Quay lạiXem tiếp