LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay541 
 Hôm qua446
 Tuần này3556 
 Tất cả304539 
IP: 18.232.171.18
 

Trao đổi nghiệp vụ và chính sách pháp luật
Tìm hiểu quy định về miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí dân sự sơ thẩm
(Cập nhật: 29/07/2019)
 

Miễn giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí dân sự thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đều có thể tiếp cận công lý, hạn chế các trường hợp vì lý do tài chính mà Tòa án không thụ lý vụ án, làm cho quyền lợi hợp pháp của người dân không được đảm bảo, quyền khởi kiện, yêu cầu tới Tòa án không thể thực hiện.   

Ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Theo đó, Nghị quyết đã sửa đổi, bổ sung, quy định mới nhiều nội dung so với Pháp lệnh 10/2009, trong đó mở rộng thêm đối tượng được miễn, giảm tiền tạm ứng án phí và lệ phí. Điều 12, 13 Nghị quyết 326 quy định:

Điều 12. Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

1. Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

a) Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệpgiải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

b) Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mt năng lực hành vi dân sự;

c) Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

d) Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

đ) Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.

2Những trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này được min các khoản tạm ng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết này.

3. Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phn số tiền án phí phải nộp thuc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét min án phí đối với phn mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định, của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp.

Điều 13. Giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

“1. Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thì được Tòa án giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp…”


Hình ảnh mang tính minh họa

Để được miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, thì người được miễn, giảm phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm. Thẩm quyền xét miễn, giảm trước khi thụ lý vụ án là Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công; Thời hạn xem xét là 03 ngày làm việc.

Với quy định này, mặc dù người có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đã có tài liệu thể hiện thuộc đối tượng được miễn, giảm tạm ứng án phí, lệ phí nhưng không có đơn đề nghị xét miễn, giảm thì vẫn không được xem xét để miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí. Tuy nhiên, không phải người khởi kiện, người yêu cầu nào cũng biết mình thuộc đối tượng được xét miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí, nếu không được hướng dẫn và giải thích pháp luật. Có rất nhiều trường hợp, vì chưa có đơn đề nghị và đợi xét miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà thời gian thụ lý vụ, việc dân sự bị kéo dài, gây mất thời gian và ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Mặt khác đối với những trường hợp được miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí, mặc dù trong quá trình thụ lý vụ, việc họ không có đơn đề nghị xin miễn, giảm mà vẫn nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí theo quy định, nhưng quá trình giải quyết tòa án phải quyết định trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí cho đương sự, mà không phải làm đơn đề nghị.

Từ những phân tích nêu trên, thiết nghĩ cần có quy định linh hoạt hơn đối với những trường hợp đủ căn cứ được miễn, giảm tạm ứng án phí, lệ phí, thì xét miễn, giảm ngay từ khi nhận tài liệu, chứng cứ trước khi thụ lý mà không cần thiết phải có đơn đề nghị, để rút ngắn thời gian thụ lý, hạn chế thủ tục rườm rà, mất thời gian mà không hiệu quả, đảm bảo quyền, lợi ích cho người dân và đảm bảo tính nhân đạo của nhà nước.

                                                                                                                         Phạm Thị Huyên
VKSND huyện Cẩm Giàng
 
Các bài liên quan
Khi nào Quyết định xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt được coi là yếu tố định tội (24/07/2019)
Mục tiêu Đề án "Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2019-2021" (24/07/2019)
VKSND tỉnh Hải Dương kiểm sát việc cưỡng chế Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (18/07/2019)
Bàn thêm về vướng mắc trong việc ghi thời hạn tạm giam (05/07/2019)
Phương pháp phát hiện vi phạm khi kiểm sát giải quyết KN, TC trong hoạt động tư pháp (02/07/2019)
 
Quay lạiXem tiếp