LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay986 
 Hôm qua1228
 Tuần này7281 
 Tất cả627306 
IP: 3.226.241.176
 

Trao đổi nghiệp vụ và tuyên truyền pháp luật
Một số điểm lưu ý trong quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ theo Thông tư liên tịch số 01/2020 ngày 01/6/2020 của liên ngành Trung ương
(Cập nhật: 11/08/2020)
 

           Ngày 01/6/2020, liên ngành Trung ương đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP  quy định phối hợp thực hiện một số điều của Bộ luật TTHS về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2020. Nội dung Thông tư liên tịch có một số quy định mới về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ sau đây:

          1. Trong quản lý, giải quyết vụ việc tạm đình chỉ

          - Khi có một trong các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 148 BLTTHS thì chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên phải phối hợp lập biên bản rà soát tài liệu, chứng cứ, bảo đảm việc tạm đình chỉ giải quyết vụ việc có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; biên bản phải lưu hồ sơ vụ việc, hồ sơ kiểm sát.

          - Khi vụ việc được tạm đình chỉ thì cơ quan có thẩm quyền điều tra, VKS chỉ áp dụng các biện pháp để giải quyết lý do tạm đình chỉ.

          - Đối với những vụ việc tạm đình chỉ đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan có thẩm quyền điều tra trao đổi bằng văn bản với VKS trước khi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ vào nội dung tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố về loại tội theo khoản của điều luật trong BLHS đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, xác minh làm rõ; trường hợp không làm rõ được khoản nào của điều luật thì việc xác định thời hiệu căn cứ vào khung hình phạt trong cấu thành cơ bản của điều luật đó.

          2. Trong tạm đình chỉ điều tra

          - Trường hợp tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 229 BLTTHS thì cơ quan có thẩm quyền điều tra quyết định tạm đình chỉ khi VKS quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng bệnh hiểm nghèo của bị can.

- Khi có căn cứ tạm đình chỉ điều tra quy định tại Điều 229 BLTTHS, trường hợp cần phối hợp về việc quản lý, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ; việc áp dụng, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (nếu có) và biện pháp giải quyết lý do tạm đình chỉ thì chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, cơ quan có thẩm quyền điều tra trao đổi bằng văn bản với VKS trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.

          - Khi vụ án tạm đình chỉ điều tra thì cơ quan có thẩm quyền điều tra chỉ áp dụng các biện pháp để giải quyết lý do tạm đình chỉ.

          3. Trong phục hồi, đình chỉ điều tra đối với vụ án đã tạm đình chỉ trong giai đoạn điều tra

          Định kỳ (hằng tháng, 06 tháng, 01 năm) cơ quan có thẩm quyền điều tra và VKS phối hợp rà soát, đối chiếu, phân loại các vụ án tạm đình chỉ điều tra và tùy từng trường hợp xử lý như sau:

- Đối với vụ án có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra và còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định phục hồi điều tra theo Điều 235 BLTTHS;

          - Đối với vụ án tạm đình chỉ điều tra nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan có thẩm quyền điều tra trao đổi bằng văn bản với VKS trước khi ra quyết định đình chỉ điều tra mà không phải ra quyết định phục hồi điều tra;

          - Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp nêu trên căn cứ vào Điều 27, 28 BLHS và phân loại tội theo khoản, điều của BLHS ghi trong quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Trường hợp quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can chỉ ghi điều luật, không ghi khoản và quá trình điều tra chưa làm rõ được hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật đó thì việc xác định thời hiệu căn cứ vào khung hình phạt trong cấu thành cơ bản của điều luật đó.

          4. Tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố

          - Trường hợp có căn cứ tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 247 BLTTHS thì VKS ra quyết định tạm đình chỉ vụ án cùng với quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng bệnh hiểm nghèo của bị can.

          - Trường hợp có căn cứ tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 247 BLTTHS thì trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố, VKS xem xét việc quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố.

          - Đối với các trường hợp quyết định tạm đình chỉ nêu trên, VKS phải xem xét quyết định việc quản lý, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ; việc áp dụng, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (nếu có) và việc đôn đốc khắc phục lý do tạm đình chỉ.

          - Sau khi ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, VKS chỉ áp dụng các biện pháp để giải quyết lý do tạm đình chỉ.

          - Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong các vụ án tạm đình chỉ trong giai đoạn truy tố được thực hiện như các vụ án tạm đình chỉ trong giai đoạn điều tra. Trường hợp kết luận điều tra xác định bị can phạm tội thuộc khoản của điều luật trong BLHS khác với khoản của điều luật ghi trong quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ vào khoản của điều luật ghi trong kết luận điều tra.

          5. Tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử

          - Trường hợp tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 229 BLTTHS mà phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ cùng với quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

          - Trường hợp tạm đình chỉ vụ án theo khoản 1 Điều 281 BLTTHS thì trước khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án xem xét quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử.

- Đối với các trường hợp quyết định tạm đình chỉ nêu trên, Tòa án phải xem xét quyết định việc quản lý, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ; việc áp dụng, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (nếu có) và việc đôn đốc khắc phục lý do tạm đình chỉ.

          - Sau khi ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, Tòa án chỉ áp dụng các biện pháp để giải quyết lý do tạm đình chỉ.

         - Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vụ án tạm đình chỉ trong giai đoạn xét xử được thực hiện như đối với các vụ án tạm đình chỉ trong giai đoạn điều tra. Trường hợp Cáo trạng truy tố bị can phạm tội thuộc khoản, điều của BLHS khác với khoản, điều ghi trong quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ theo khoản, điều của BLHS ghi trong Cáo trạng.

                                                                                                                     Nguyễn Thị Hoa
VKSND huyện Bình Giang

 
Các bài liên quan
82 tháng tù cho các đối tượng Trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (10/08/2020)
Chí Linh: Phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và Lệnhtạm giam đối tượng phạm tội Chứa mại dâm (06/08/2020)
30 tháng tù cho các đối tượng cố ý gây thương tích (27/07/2020)
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương Phối hợp với UBMTTQVN tuyên truyền pháp luật (23/07/2020)
Thành phố Hải Dương tổ chức phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm vụ án “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (23/07/2020)
 
Quay lạiXem tiếp