LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay1779 
 Hôm qua1345
 Tuần này3124 
 Tất cả662905 
IP: 34.200.226.179
 

Trao đổi nghiệp vụ và tuyên truyền pháp luật
Phân biệt hòa giải, đối thoại
(Cập nhật: 09/10/2020)
 

(ảnh Kiểm sát online)

Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án có 4 chương, 42 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. 

Luật này nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên tại Tòa án, các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án; trách nhiệm của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại; trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại và công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án. Có thể thấy Hòa giải đối thoại quy định tại Luật hòa giải đối thoại có nội dung khác hòa giải quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự và đối thoại quy định tại Điều 20 Luật tố tụng hành chính, một số nội dung như sau:

Thẩm quyền hòa giải, đối thoại

Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính do Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, vụ việc thực hiện.(Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm)

Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án do Hòa giải viên tiến hành thực hiện (Hòa giải viên tại Tòa án được Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm theo  Điều 10, Điều 11 Luật)

 Nguyên tắc hòa giải, đối thoại

Bộ luật tố tụng dân sự  Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Luật tố tụng hành chính  Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự; Không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ; Nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

  Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án tự nguyện hòa giải, đối thoại. Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên; không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ. Bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định tại Điều 4 của Luật này.

Thời điểm hòa giải, đối thoại.

Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự từ thời điểm thụ lý đơn khởi kiện, trong suốt quá trình giải quyết và tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm; trừ những vụ án dân sự không được hòa giải (Điều 206); những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được (Điều 207).

Luật tố tụng hành chính Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri, vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các Điều 135, 198 và 246 của Luật này.

Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, trừ những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định tại Điều 19.

Địa điểm, hình thức hòa giải, đối thoại

 Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính  được thực hiện tại trụ sở Tòa án nhân dân nơi thụ lý vụ án, vụ việc; bằng hình thức trực tiếp.

  Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án việc hòa giải, đối thoại có thể được  tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án theo lựa chọn của các bên; bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp khác theo đề nghị của các bên

Hiệu lực của hòa giải, đối thoại  thành

Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 212, Điều 213) Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu hòa giải thành. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Luật tố tụng hành chính (Điều 140) Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Điều 32, 33) Quyết định công nhân kết hòa giải thành, đối thoại thành, khi có đủ 6 điều kiện quy định tại Điều 33. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Xem xét lại quyết định Quyết định

Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính  Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có thể bị xem xét lại theo đề nghị của các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án, kiến nghị của Viện kiểm sát nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật này. (1)

(1)Tham khảo: Những nội dung chủ yếu của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án/ Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử/ ngày 06/7/2020/ Tống Anh Hào (Thẩm phán, Nguyên Phó Chánh án TANDTC ). Những Quy định mới theo luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án/ Kiểm sát online/04/8/2020/Minh Tú;

                                                                                                              Nguyễn Quang Trung
Phòng 7, VKSND tỉnh Hải Dương
 
Các bài liên quan
Các hành vi vi phạm và hình thức xử lý kỷ luật đối với công chức (06/10/2020)
Thực hiện quyền kháng nghị khi kiểm sát quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự (02/10/2020)
Giới thiệu một số nội dung cơ bản về quy trình tiếp công dân (27/09/2020)
Một số điểm mới về phân cấp thẩm quyền quản lý công chức, người lao động đối với Viện trưởng VKSND cấp tỉnh. (27/09/2020)
Khi nào phải xây dựng Kế hoạch thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra (27/09/2020)
 
Quay lạiXem tiếp